Dấu ấn nổi bật của công tác tổ chức xây dựng Đảng qua các năm Sửu

Cùng điểm lại một số điểm nhấn của công tác tổ chức xây dựng Đảng qua các năm Sửu.

Năm 1937 (Đinh Sửu)

Cuộc mít tinh ở Khu Đấu xảo (Hà Nội) hưởng ứng phong trào đấu tranh dân chủ giai đoạn 1936-1939. Ảnh tư liệu

Tháng 3 và tháng 9/1937, BCH Trung ương tổ chức các hội nghị rút kinh nghiệm về công tác tổ chức của Đảng. Ngày 26/3/1937, BCH Trung ương công bố cuốn sách về “chủ trương tổ chức mới của Đảng” khẳng định: “Hoàn cảnh mới, nhiệm vụ mới bắt buộc Đảng ta phải có con đường chánh trị mới, con đường chánh trị mới lại bắt buộc phải có một đường tổ chức mới”. Từ đó, các tổ chức của Đảng được củng cố và phát triển, một số hoạt động của Đảng ra công khai, nửa công khai, hợp pháp, tổ chức các cuộc đấu tranh của quần chúng chống bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai, mở rộng phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ; cử một số người tham gia ứng cử vào viện dân biểu, hội đồng quản hạt, hội đồng thành phố. Hội nghị Trung ương toàn thể tháng 9/1937 bổ sung đồng chí Nguyễn Văn Cừ vào Ban Thường vụ Trung ương.

Năm 1949 (Kỷ Sửu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đoàn đại biểu Nam Bộ từ chiến trường miền Nam ra chiến khu Việt Bắc báo cáo với Trung ương Đảng, Bác Hồ và Chính phủ về quyết định kháng chiến của đồng bào và chiến sĩ miền Nam (10/1949). Ảnh: Hochiminh.vn)

Để đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện trong giai đoạn thứ hai, BTV Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ sáu từ ngày 14 đến ngày 18/1/1949 tại Việt Bắc nhằm “kiểm điểm năm qua, nhận định tình hình hiện tại, nhận định nhiệm vụ và bước đường trước mắt để chuẩn bị tổng phản công, giành lấy thắng lợi cuối cùng”. Đảng đề ra nhiệm vụ: tích cực đào tạo và mạnh dạn đề bạt cán bộ; mở các lớp huấn luyện nâng cao trình độ chính trị và lý luận cho đảng viên; đẩy mạnh cuộc vận động gây dựng chi bộ tự động công tác; phát triển Đảng mạnh mẽ trên toàn quốc, nhất là ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ; xây dựng Đảng bộ ở Lào và Căm-pu-chia; ra sức gây dựng, phát triển cơ sở Đảng trong vùng địch tạm chiếm, nhất là ở đô thị, ở các vùng dân tộc thiểu số…

Ngày 31/5/1949, BTV Trung ương Đảng ra Chỉ thị xây dựng cơ sở Đảng rộng khắp, nhất là ở những đô thị lớn, những vùng chiến lược và kinh tế quan trọng. Để tiếp tục đẩy mạnh công tác vùng địch kiểm soát, tổng phản công đều khắp ở cả ba vùng tự do, tạm chiếm và tranh chấp, ngày 20/9/1949 Liên khu ủy khu III triệu tập Hội nghị đảng vụ toàn Khu để kiểm điểm công tác, thảo luận và ra nghị quyết về công tác xây dựng Đảng ở vùng địch kiểm soát.

Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ cụ thể là: Gây dựng cơ sở trong những hội tề; phát triển mạnh tại các thành phố, thị xã, chú trọng các xí nghiệp, đặc biệt là thành phần công nhân; đề cao công tác củng cố, chú trọng đào tạo và duy trì các chi bộ tự động; đơn giản bộ máy, cách làm việc hướng vào công tác thực tế; đào tạo, rèn luyện và chăm sóc đời sống cán bộ; giáo dục ý thức giữ bí mật, đề phòng nội gián.

Năm 1961 (Tân Sửu)

Chiếc máy cày của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Hợp tác xã Đại Phong, lá cờ đầu ngành nông nghiệp, thực hiện luống cày đầu tiên, tháng 6 năm 1961 trước sự vui mừng của bà con xã viên.

Ở miền Bắc, công tác tổ chức tập trung phục vụ thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất, tiến hành các cuộc vận động lớn: Xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở theo yêu cầu “4 tốt” (sản xuất, chiến đấu tốt; chấp hành chính sách tốt; công tác quần chúng tốt và củng cố Đảng tốt) gắn với các cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã (HTX), cải tiến quản lý xí nghiệp, “ba xây, ba chống” (xây: nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý tài chính, cải tiến kỹ thuật; chống: tham ô, lãng phí, quan liêu); chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế, góp phần tạo nhiều phong trào thi đua yêu nước, yêu CNXH như: thi đua phấn đấu đạt danh hiệu “tổ đội lao động XHCN”, học tập và thi đua với các điển hình tiên tiến: “sóng Duyên Hải” (trong công nghiệp), “gió Đại Phong” (trong nông nghiệp), “cờ Ba Nhất” (trong quân đội), “trống Bắc Lý” (trong ngành giáo dục)… Quan tâm công tác bảo vệ chính trị nội bộ, giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chống âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch lợi dụng những khó khăn, thiếu sót, khuyết điểm của ta nhằm gây chia rẽ, bè phái để chống Đảng.

Ngày 2/12/1960, hơn 2.000 người dân tỉnh Mỹ Tho mít tinh, biểu tình đòi Mỹ - Ngụy chấm dứt các cuộc hành quân càn quét, chấm dứt việc bắn đại bác vào xóm làng, đòi Ngô Đình Diệm từ chức và thành lập một chính phủ dân chủ tiến bộ ở miền Nam Việt Nam. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Ở miền Nam, sau phong trào Đồng khởi năm 1960, cách mạng chuyển sang giai đoạn mới. Trung ương Cục miền Nam được thành lập lại theo Nghị quyết của BCH Trung ương Đảng ngày 23/1/1961 để trực tiếp lãnh đạo cách mạng ở miền Nam, từng bước đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, chiến lược “chiến tranh cục bộ” và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Năm 1973 (Quý Sửu)

Ngày 20/2/1973, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 225-NQ/TW “về công tác cán bộ trong giai đoạn mới”. Nghị quyết chỉ rõ, công tác cán bộ phải gắn liền với việc chấn chỉnh và kiện toàn tổ chức, trên cơ sở xây dựng tổ chức, phát huy sức mạnh của tổ chức mà làm tốt công tác cán bộ. Cần quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, tính chất công tác, cơ cấu tổ chức, tiêu chuẩn các công việc, chế độ trách nhiệm của tập thể và từng cá nhân, từ đó đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp cán bộ thích hợp.

Các đảng bộ ở các ngành, các cơ quan Trung ương và đảng bộ địa phương tiếp tục mở rộng thi hành Chỉ thị số 192-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng. Việc làm này không chỉ thi hành kỷ luật đối với đảng viên mà còn xây dựng, củng cố các TCCSĐ về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, góp phần hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của Đảng. Quan tâm xây dựng TCCSĐ ở các HTX tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nhỏ. Chú trọng rèn luyện, nâng cao chất lượng đảng viên và phát triển đội ngũ của Đảng.

Năm 1985 (Ất Sửu)

Mít tinh kỷ niệm kỷ niệm 10 năm ngày thống nhất đất nước ở TP HCM. Ảnh do nhiếp ảnh gia Philip Jones Griffiths chụp năm 1985

Từ ngày 7 đến ngày 10/1/1985, Ban Tổ chức Trung ương mở hội nghị kiểm điểm công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 1984, bàn phương hướng, nhiệm vụ năm 1985.

Hội nghị thảo luận và nhất trí phương hướng, biện pháp nhằm tạo bước chuyển mới về công tác tổ chức xây dựng Đảng, trong đó cần tích cực chuẩn bị với chất lượng cao để tiến hành thắng lợi đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội VI của Đảng trong năm 1986. Quan trọng là chuẩn bị nhân sự cấp ủy và tổng kết công tác xây dựng Đảng. Quán triệt nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa V), toàn Ngành tập trung rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt ở các bộ, ngành kinh tế tổng hợp và lưu thông, phân phối (kế hoạch, vật giá, tài chính, ngân hàng, lao động, vật tư, lương thực, nội thương, ngoại thương...) từ Trung ương đến các địa phương, đơn vị và cán bộ chủ chốt ở các đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Khoảnh khắc vui vẻ của các chiến sĩ khi bóng bay được thả trên bầu trời. Ảnh do nhiếp ảnh gia Philip Jones Griffiths chụp năm 1985

Qua thực hiện nghị quyết, kịp thời phát hiện những cán bộ có năng lực đáp ứng tốt yêu cầu cơ chế quản lý mới, đưa vào quy hoạch và đề bạt. Củng cố và phát huy vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ, bảo đảm thực hiện tốt nghị quyết từ cơ sở. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao trình độ giác ngộ, năng lực và phẩm chất của cán bộ, đảng viên để thích ứng với cơ chế quản lý mới. Giáo dục cán bộ, đảng viên và quần chúng về ý thức tổ chức kỷ luật, nâng cao đạo đức cách mạng, chống các biểu hiện tiêu cực trong đời sống. Rà soát lại chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế phù hợp với yêu cầu tiến hành hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN, làm cho tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính sự nghiệp gọn nhẹ, thực hiện đúng chức năng, quy định, bảo đảm phục vụ tốt nhiệm vụ cải tiến quản lý, đẩy mạnh sản xuất - kinh doanh.

Năm 1997 (Đinh Sửu)

Ban Tổ chức Trung ương đã tham mưu BCH Trung ương ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Nghị quyết xác định một hệ thống các quan điểm cơ bản chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, đề ra các chính sách và giải pháp lớn thực hiện nhiệm vụ công tác cán bộ trong thời kỳ mới. Tham mưu với Bộ Chính trị và cấp ủy các cấp sắp xếp, bố trí, kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở Trung ương và địa phương, thực hiện một bước quan trọng chuyển giao thế hệ cán bộ, nhất là cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước.

Tiếp tục xây dựng, mở rộng và nâng cao chất lượng các TCCSĐ trong sạch, vững mạnh; giảm số cơ sở đảng yếu kém (năm 2000 đạt 60% TCCSĐ trong sạch, vững mạnh). Chú trọng xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ thống chính sách cán bộ nhằm tạo động lực thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ.

Năm 2009 (Kỷ Sửu)

Đầu tháng 1/2009, Đảng ta mở Hội nghị Trung ương lần thứ 9 sơ kết công tác nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng, cho ý kiến về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 của BCH Trung ương về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”. Thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 9 (tháng 2/2009) về công tác tổ chức xây dựng Đảng, toàn Ngành tập trung tạo chuyển biến, tiến bộ mới trong công tác cán bộ; đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ; tham mưu với Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 4/8/2009 về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XI của Đảng. Tham mưu, chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, trọng tâm là chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và nhân sự Đại hội XI.

Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 8, khóa X, năm 2009. Ảnh tư liệu

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X) về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiện toàn bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng các cấp gắn với thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, tài năng, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở trong nước và nước ngoài… Thực hiện Đề án 165, năm 2009 đã chọn, cử 1.052 học viên đi đào tạo và bồi dưỡng ở nước ngoài, trong đó có 308 cán bộ được bồi dưỡng ngoại ngữ để đi học cao học, nghiên cứu sinh; 26 đoàn đi nghiên cứu bồi dưỡng ngắn hạn ở nước ngoài với 424 cán bộ (65 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, 359 cán bộ cấp vụ, sở và tương đương).

Theo Xaydungdang.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục

Tin mới